Chùa Long Cảm

Đăng lúc: 08:53:54 09/09/2017 (GMT+7)

Chùa Long Cảm nằm ở núi Ốc Sơn thôn Trang Các, xã Hà Phong, huyện Hà Trung được xây dựng vào thời Lý Thái Tổ, sau sự kiện năm thuận tiên thứ 11 (1020) khi nhà vua đem quân đi chinh phục đất phương Nam. Sử cũ cho biết: Trên đường đi chinh phục đất phương Nam, vua Lý Thái Tổ đã cùng đoàn quân của mình đóng quân trên núi Ốc Sơn. Đêm đến nhà vua nằm mộng thấy vị thần linh ở núi hiện đến và hứa sẽ trợ lực cho nhà vua trong cuộc tiến quân này. Công cuộc chinh phục phương Nam thắng lợi, về tới kinh đô, truy nhớ lại sự tích trên và để trả ơn vị thần linh giúp sức, vua Lý Thái Tổ đã cho dựng trên núi Ốc Sơn một ngôi chùa lấy tên Long Cảm. (Long là Rồng, nhà vua cảm tạ ơn).

Về sau, ngôi chùa – núi Ốc Sơn và vùng đất Trang Các còn gắn liền với nhiều sự kiện lịch sử đã diễn ra hết sức sôi động:

   Đời Trần, Trần Thái Tông (1225 – 1258), vị vua đầu tiên của nhà Trần cũng thân chinh đi đánh Chiêm Thành (1252) và đóng quân tại chùa Long Cảm. Nhà vua cũng mộng thấy vị thần linh trên núi Ốc Sơn hiện đến và hứa trợ giúp, cuộc hành binh thắng lợi. Cuộc hành binh này Vua Trần đã thắng được quân Chiêm, bắt được Hoàng Hậu Bô – Đa La đưa về kinh đô.

   Năm 1843 – thời Nguyễn – trong một dịp đi kinh lý ra Bắc, vua Thiệu Trị đã cho trùng tu lại chùa Long Cảm, ban tặng cho chùa một quả chuông đồng và khắc một tấm bia ghi công đức (Tài liệu của HL.Breton).

   Xa hơn chút nữa, tương truyền Triệu Đà (208 – 137 TCN) khi vào Cửu Chân (Thanh Hóa) đuổi theo An Dương Vương đã dắp thành quách ở núi Ốc Sơn.

   Ngoài những yếu tố về mặt lịch sử như trên, chùa Long Cảm từ xưa đến nay đều do các sư nữ trụ trì và trong nhiều thế kỷ nó cũng là nơi tu hành của các ni cô.

   Vốn là một vùng đất sầm uất, có phong canhr đẹp và là một “đô thị” sớm của xứ Thanh, vùng đất Trang Các cũng gắn liền với nhiều hoạt động tôn giáo sôi nổi. Vào năm Tự Đức – Mậu Dần (1878), Hòa Thượng Minh Nguyệt cùng dân trong huyện Tống Sơn xây dựng thêm điện Long Chương trên núi Ốc Sơn.tương truyền, đây là nơi công chúa Thủy Tinh thường xuống hạ giới giúp đỡ dân lành.

   Trải qua hơn chín thế kỷ tồn tại, kiến trúc chùa Long Cảm đã bị thay đổi qua nhiều lần tôn tạo, tu sửa. Dấu tích thời Lý chỉ còn lại 4 cột đá ở hiên chàu chính. Còn lại từ thượng Pháp đến  kiến trúc chùa, bia ký, chuông đồng, khánh đá… đều mang dấu tích thời Lê – Nguyễn.

-Về quy mô kiến trúc: hiện thấy, chùa Long Cảm được cấu trúc trên một diện tích đất đã được khoanh vùng bảo vệ là 1050m2 (theo bản đồ địa chính xã Hà Phong). Với diện tích xây dựng các công trình là 409,8m2, trong đó diện tích các công trình kiến trúc cổ là 270,2m2 và công trình mới là 138,4m2, với các hạng mục: chùa chính (gồm có sân), nhà Mẫu, nhà Tổ, nhà khách, nhà bếp, nhà kho, Cổng Tam Quan chùa bị sập đổ từ lâu chưa khôi phục lại được.

   Chùa được xây dựng trên sườn núi Ốc Sơn và cấu trúc thành một thể liên hoàn: Cửa Tam Quan – Sân chùa – chùa chính – nhà thờ mẫu – nhà tổ, tiếp đó (về phía sau) là nhà khách và nơi ở của nhà sư trụ trì. Từ sân nhìn xuống về phía đông ở khu đất thấp hơn là khu Xá Lỵ (cách khuôn viên chùa chính khoảng 15m).

  Trước kia cổng Tam Quan được xây dựng đồ sộ  dùng để treo chuông (nay đã bị phá hủy). Qua sân chùa (rộng 6,50m, dài 17m) đến chùa chính. Trong sân chùa có bài trí một bộ bàn ghế bằng đá loại mới để du khách nghỉ chân trước khi vào chùa. Ở bên trái có treo một khánh đá lớn. Bên cạnh khánh đá là một tấm bia công đức nhỏ đã mờ hết chữ. Xung quanh sân chùa là những cây lưu niên ngàn tuổi xen lẫn bồn hoa, cây cảnh bốn mùa nở hoa và thơm mát, làm cho cảnh sắc thiên nhiên ngôi chùa càng thêm hấp dẫn. Phía phải sân chùa là sườn Núi Ốc với những tảng đá rêu phong và thảm thực vật nhiệt đới bốn mùa.

   Liền kề với chùa chính có một cửa hậu đi ở gian nách là nhà thờ mẫu. Nhà thờ mẫu này kết cấu kiến trúc vì kèo bằng đá. Mặt trước cung mẫu hướng về phía đông. (bởi thế đất chùa chạy ngang sườn núi). Liền tiếp nhà thờ mẫu là nhà tổ cũng quay mặt về hướng đông. Tiếp theo là các công trình phục vụ sinh hoạt của nhà sư và tiếp khách.

   Về nghệ thuật kiến trúc và tượng pháp.

   Chùa chính (còn gọi là Tiền đường hay Bái đường) gồm 3 gian (rộng 10,50m x dài 11,80m = 123,90m2), có kết cấu vì kèo gỗ theo kiểu “chồng rường, giá chiêng” với 4 hàng chân cột, hai cột lớn và hai cột quân. Phía trên là câu đầu. Trên câu đầu là hai cột trốn. Ở trên hai cột trốn này là một con rường dài nằm trên hai đầu cột trốn, tiếp đó là một con rường nữa nằm trên hai đấu bát. Trên cùng là một đấu vuông đỡ thượng lương. Ở đây, lại có thêm một kiến trúc phụ được tạo ra bằng một xà ngang chạy từ hàng chân cột thứ 4 (từ trong ra phía trước) ăn mộng vào cột thứ 5. Ở trên xà ngang này là một vì kèo nhỏ tạo thành góc mái. Vì thế mà trong kết cấu kiến trúc ở chùa chính này có 2 vì kèo nằm trên cùng một tuyến ngang (2 lớp vì kèo). Đây là dụng ý của người đời sau đưa vào với mục đích làm cho lòng công trình được mở rộng thêm.

   Về trang trí trên các vì kèo, là những mảng chạm khắc hình các con giống như rồng, ngựa, hươu…được tạo tác từ bên ngoài được gawbs vào những bức cốn mê.

    Về bài trí tượng pháp: ở phật điện được thờ các loại tượng phật, tượng hộ pháp, treo chuông, một số câu đối và đại tự.

    Hai pho tượng hộ pháp được dặt ở hai bên. Về hình dáng tượng được tạo hình người vũ sĩ mặc áo giáp , tay cầm khí giới , đầu đội mũ trụ, ngồi trên lưng sấu. Kích thước tượng lớn: cao 1,35m, đường kính 0,42m. Phía góc trái của chùa có một số bia chùa loại nhỏ và một số bệ thờ của những người gửi quả phúc.

  Ở gian giữa của phật điện được bài trí tượng pháp của phật điện gồm 29 pho tượng phật với 5 lớp bàn thờ từ trên xuống thấp dần. Lớp bàn thờ ngoài cùng (thấp nhất) là hương án . Liền kề sát với hương án là nơi nhà sư ngồi tụng kinh, niệm phật.

   Lớp bàn thờ trên cùng (thứ nhất) giáp vách thượng điện đặt 3 pho thượng Tam Thế ngồi trên tòa sen ngồi ngang nhau, tượng trưng cho chư phật thuộc về ba đời: phật quá khứ, phật hiện tại và phật tương lai (vị lai).

   Lớp bàn thờ thứ hai: bài trí ba pho tượng cùng dãy gọi là Di Đà Tam Tôn. Ngồi giữa là tượng phật a di đà (trong tư thế tọa thiền) hai bên là tượng Quan Thế Âm ( bên phải), Đại Thế Chí (bên trái) được tạo tác kiểu dáng đứng chầu bên cạnh phật A di đà. Cả ba pho tượng đều được ngồi và đứng trên tòa sen.

Lớp bàn thờ thứ 3: gồm 3 pho tượng cùng dãy. Ở giữa là phật thích Ca sơ sinh đứng trong tòa Cửu Long. Bên trái là tượng Văn Thù Bồ Tát, ngồi trên lưng sư tử xanh, bên phải là tượng Phổ Hiền Bồ Tát, ngồi trên Bạch Tượng (voi trắng).

    Lớp bàn thờ thứ 4: Gồm 3 pho tượng Thánh Tăng, Thổ Địa, Đức Ông.

    Lớp bàn thờ thứ 5: Là một hương án được đặt bát hương lớn ở giữa bệ thờ. Trên hương án còn có một số đồ thờ phục vụ cho việc lễ phật.

    Ngoài các lớp tượng kể trên, chùa chính cũng là nơi tập trung những tác phẩm điêu khắc mang ý nghĩa trang trí làm tăng thêm sự lộng lẫy trang nghiêm của điện thờ đó là các bác cửa võng, các mảng chạm khắc trên các bức cốn mê và đại tự được thể hiện tinh xảo, tiêu biểu cho nghệ thuật chạm khắc đầu thời Nguyễn ở Thanh Hóa.

 -Nhà thờ mẫu: liền kề với phật điện (rộng 5m x dài 13,3m = 66,5m2 ). Kiến trúc chính 3 gian với 2 vì kèo, 4 hàng chân cột đều được tạo tác bằng đá xanh vuông cạnh.

 Bài trí trong nhà thờ mẫu: gồm 3 cung thờ. Cung đệ nhất bài trí ba pho tượng Tam Tòa Thánh Mẫu. Cung đệ nhị là các pho tượng Thánh Chầu. Cung đệ tam là bàn thờ Hội đồng gồm ngũ vị tôn ông – 5 vị quan lớn dưới quyền mẫu phụ trách năm phương.

   Nhìn chung, các pho tượng mẫu ở đây hầu hết là những pho tượng cổ có giá trị nghệ thuật cao. Ở gian ngoài cùng còn có bức đại tự với dòng chữ “Giai trì xuân sắc”.

   -Nhà thờ tổ: được nối với nhà mẫu, nhưng vẫn là một bố cục riêng được bố trí thành một tòa ngang gồm 3 gian Tiền Đường và một gian Hậu Cung. Tòa Tiền Đường có kích thước (dài 8,2m x rộng 7,7m = 66,2m2 và Hậu Cung (dài 3,9m x rộng 3,5m = 13,6m2). Ở đây, riêng nhà Hậu Cung là một yếu tố phụ mới được xây dựng thêm để đặt các pho tượng tổ sư, trước đây nó được đặt phía ngoài.

   Nhà tiền đường là một công trình được kiến trúc vì kèo theo kiểu “chồng rường kẻ bẩy” với những mảnh chạm khắc lá cúc trên các đầu kẻ, đấu trụ và các con rường.

   Về bố trí tượng pháp: toàn bộ tổ sư gồm 8 pho cổ và 2 pho mới được bài trí trong nhà Hậu Cung từ cao xuống thấp, từ sớm đến muộn. Đây là những vị tổ sư đã từng tu hành tại chùa. Ngoài ra còn có một pho tượng Đức Tổ Tây có dung mạo giống người Tây Phương (Ấn Độ) mũi cao, tóc quăn, râu quai nón. Các bức đại tự “Tổ ấn trùng quang” và câu đối được treo ở gian giữa.

     Tóm lại: Qua kiến trúc và tượng pháp ở chùa Long Cảm, cho biết đây là một công trình thờ phật quy mô. Số lượng tượng pháp, đại tự, câu đối bia ký và dấu ấn kiến trúc cổ còn được giữ gìn khá nguyên vẹn. Đặc biệt, trong đó những pho tượng phật là những tài sản vô giá giúp chúng ta tìm hiểu những chặng đường phát triển của hệ thống tượng pháp qua các thời kỳ. Lịch sử ra đời và tồn tại của chùa Long Cảm, góp thêm một ngôi chùa có niên đại thời Lý trên đất Thanh Hóa, ít được mọi người biết đến.  

    

                                                      -Tuyết Vân lấy từ nguồn Dư địa chí Hà Trung-

Bản đồ Huyện Hà Trung

Đăng ký tạm trú