Khu di tích Lăng miếu Triệu Tường

Đăng lúc: 08:53:54 09/09/2017 (GMT+7)

Di tích lăng miếu Triệu Tường được vua Gia Long cho xây dựng năm 1803, tại thôn Gia Miêu, xã Hà Long, huyện Hà Trung, nơi phát tích của 9 chúa, 13 vua triều Nguyễn. Đây là công trình kiến trúc tưởng niệm, miếu thờ của vương triều Nguyễn, được xây dựng với quy mô lớn, có giá trị đặc biệt về kiến trúc và nghệ thuật trang trí điêu khắc. Các nhà sử học coi khu di tích này là “kinh thành Huế thu nhỏ”.

 


Miếu Triệu Tường ở Gia Miêu ngoại trang (ảnh tư liệu)

Khu di tích lăng miếu Triệu Tường được xây dựng trên một cánh đồng bằng phẳng dưới chân núi Triệu Tường thuộc làng Gia Miêu – xã Hà Long. Ngày nay muốn đến Gia Miêu, người ta đi qua thị xã Bỉm Sơn (phía bắc Thành phố Thanh Hóa), dọc theo quốc lộ 1A rẽ vào phía bên phải theo đường 7 khoảng 4 km là tới làng Gia Miêu, xã Hà Long, huyện Hà Trung (Thanh Hoá).

Ở đây có khu di tích Gia Miêu gồm: vùng núi lăng Triệu Tường là nơi táng ông Tổ nhà Nguyễn là Nguyễn Kim, Miếu Triệu Tường thờ Nguyễn Kim, Nguyễn Hòang (con Nguyễn Kim) và Trừng Quốc Công Nguyễn Văn Lựu (thân sinh Nguyễn Kim) và Đình làng Gia Miêu - thờ thành hoàng Nguyễn Công Duẩn.

Trở lại cội nguồn lịch sử, vào cuối đời Hậu Lê, Nguyễn Kim (hậu duệ của Nguyễn Công Duẩn) là một tướng giỏi có nhiều công lao được phong tước An Thành Hầu. Năm 1527, sau khi nhà Lê bị Mạc Đăng Dung cướp ngôi lập nên triều Mạc. Không từ bỏ ý chí, Nguyễn Kim chiêu tập hào kiệt bốn phương lánh lên Sầm Châu - vùng Thanh Hoá giáp Lào lập bản doanh phò Lê diệt Mạc

Năm 1545, khi Nguyễn Kim mất được đưa đến án tang tại núi Thiên Tôn. Năm 1803 vua Gia Long cho xây gần đó một miếu 3 gian 2 chái thờ Nguyễn Kim và để thờ vọng Nguyễn Hoàng (1558 – 1613). Miếu được đặt tên là Nguyên miếu (sau còn gọi là miếu Triệu Tường). Cạnh đó còn có miếu thờ Trừng Quốc Công thân phụ Nguyễn Kim.

Năm 1808, Gia Long đặt tên cho khu mộ Nguyễn Kim là lăng Trường Nguyên (lăng này không có dấu vết rõ ràng nên chỉ xây nên một nền vuông để bái yết và cúng tế).

Làng Gia Miêu trước kia thuộc huyện Tống Sơn (Hà Trung ngày nay) là quê hương gốc rể cội nguồn của Hòang tộc Nguyễn ở Thanh Hóa. Vì tính chất thiêng liêng đặc biệt ấy nên nhà Nguyễn gọi Gia Miêu là đất Quý Hương (tên Nôm gọi là Bái Đền), gọi huyện Tống Sơn là Quý Huyện. Khu di tích nầy có ba địa điểm nổi tiếng:


Lăng Trường Nguyên

1. Lăng Triệu Tường. - Tên lăng chính thức là Trường Nguyên. Lăng tọa lạc tại vùng núi Triệu Tường nên thường gọi là lăng Triệu Tường, nơi hợp táng ông bà Nguyễn Kim (tức Triệu Tổ Tĩnh Hòang Đế và Hòang hậu triều Nguyễn - thân sinh và thân mẫu của chúa Tiên Nguyễn Hòang).

Như lịch sử đã ghi: Nguyễn Kim bị hàng tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất dâng quả dưa có thuốc độc hại ông mất vào ngày 28-6-1545, thọ 78 tuổi. Để tránh bị các thế lực thù địch quật phá trừ diệt, họ hàng Nguyễn đã giữ bí mật nơi táng ông và sau đó là bà chánh hậu Nguyễn Thị Mai (Triệu Tổ Tĩnh Hòang hậu). Hơn ba trăm năm sau, khi một hậu duệ của Nguyễn Kim là Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế lấy niên hiệu là Gia Long (1802), thống nhất nước nhà, triệt hạ hết các thế lực thù địch (họ Mạc, họ Trịnh, nhà Tây Sơn), nhà Nguyễn mới công khai lăng mộ của ông bà Nguyễn Kim ở vùng núi ấy (1805).

 Ở chân núi Triệu Tường (trước có tên Thiên Tôn) nhà Nguyễn cho xây một sân gạch hình vuông và một nhà sắm lễ, thay quần áo để bái vọng mộ Triệu Tổ (Nguyễn Kim). Đến năm Minh Mạng thứ ba (1822), nhà vua cho dựng ở đây một tấm bia khắc nội dung (bản dịch) như sau: “Đất lớn chúa Thiêng sinh ra Triệu Tổ/ Vun đắp cương thường nên nên rạng thánh võ/ Nghĩa động quỉ thần công truyền vũ trụ/ Cõi trần rời bỏ lăng ở bái trang/ Non nước bao bọc sấm mắt tùng xanh/ Khi thiêng nhóm họp đời đời xưng vinh/ Mệnh trời đã giúp con cháu tinh anh/ Võ công dựng nước bèn tìm gốc nguồn/ Tuy tôn dựng miếulăng gọi Trường Nguyên/ Tân tuy Bắc tuần đến đây dựng lại/ Trông ngắm non sôngnhớ đến gốc cõi/ Khắc chữ vào bia lưu ức vạn tài” (NPT Thế phả, Thuận Hóa 1995, tr.97-98).


Tấm bia được vua Minh Mạng cho cho dựng ở lăng Trường Nguyên.

Nơi thờ vọng, nhà bia và bia ở chân núi Triệu Tường ngày hội kỷ niệm 450 năm (1558-2008) chúa Nguyễn Hoàng vào Nam mở cõi. Đến năm 1843, vua Thiệu Trị ngự chế một bài thơ và cho xây ở đây một bi đình (nhà bia).
Để giữ bí mật huyệt mộ của ông bà Nguyễn Kim, các sử thần triều Nguyễn đã dựng lên một huyền thọai: Ở vùng núi Triệu Tường vốn đã có một long khẩu (miệng rồng). Đến khi vừa đưa tử cung (quan tài vua) Triệu Tổ Nguyễn Kim vào thì bổng nhiên trời đổ xuống một trận mưa gió sấm sét dữ dội. Người đi đưa tang hoảng sợ chạy tán lọan. Đến khi gió bão đi qua, cơn mưa cũng tạnh mọi người trở lại thì chỉ còn thấy núi đá chi chít, cây cỏ um tùm, không thể nào nhận ra được nơi có long khẩu chứa quan tài của Triệu Tổ ở đâu nữa cả. Về sau có ai hỏi lăng mộ Triệu Tổ Nguyễn Kim an táng nơi đâu, những người có trách nhiệm trả lời: “Ngài được hổ táng, thiêng táng nên không thể biết”. Khi có tế lễ, họ tộc và các chức sắc nhà Nguyễn cũng chỉ hướng vào vùng núi Triệu Tường mà vọng bái thôi.

Để nhớ về nguồn cội, nhớ ơn Tiên tổ, mới đây vào hai năm 2006-2007, dòng họ Nguyễn Phúc ở Huế đã đích thân về đây trùng tu khôi phục lại nơi thờ vọng, bia và nhà bia ở chân núi Triệu Tường. Khu vực lăng Triệu Tường mở ra một địa điểm du lịch sinh thái tâm linh rất ý nghĩa.


Miếu Triệu Tường đã được quy hoạch, phục dựng lại.

2. Miếu Triệu Tường.- Với các vua nhà Nguyễn, có lăng (nơi chôn) luôn có miếu (nơi thờ) kèm theo. Đã có lăng Triệu Tường thì phải có Miếu Triệu Tường. Lăng và miếu thường xây dựng gần nhau, cùng trong một khu vực. Nhưng không hiểu sao, lăng Trường Nguyên (lăng Triệu Tường) táng trong vùng núi Triệu Tường còn Miếu Triệu Tường lại xây dựng ở cánh đồng tại thung lũng chân núi, cách khu vực lăng trên dưới 1 km, sát con đường Thành phố Thanh Hóa đi huyện miền núi Thạch Thành.

Về quy mô cấu trúc . Toàn bộ chu vi thành Triệu Tường là 182 trượng, bao quanh thành có hào nước, có cầu gạch bắc qua, lại có hai lớp lũy bao bọc (lũy ngoài xây dựng vào năm Minh Mệnh thứ 16 – năm 1835) có 4 cửa trổ theo bốn phương, ở cửa nam có một vọng lâu, lũy trong được xây dựng năm 1834, có 3 cửa đông – tây – nam . Cửa nam là một cổng Tam Quan và phía sau có hồ bán nguyệt. Phạm vi lăng trong được chia làm 3 khu vực. Khu vực chính là Nguyên miếu (miếu thờ Nguyễn Kim và Nguyễn Hoàng); khu vực bên đông là Trừng Quốc Công (miếu thờ cha Nguyễn Kim); khu vực bên tây là trại lính và nhà ở của các gia nhân coi lăng (đây là khu vực phụ) có hai viên quan thuộc dòng tôn thất được cử ra coi lăng gọi là Chánh sứ và Phó sứ có thêm hai thuộc quan nữa giúp việc: một diện sứ và một miếu thừa.

Không gian bên trong thành Triệu Tường chia làm 3 khu vực: Khu vực chính ở giữa xây Nguyên Miếu thờ Nguyễn Kim và Nguyễn Hoàng. Khu vực phía đông dựng miếu thờ Trừng Quốc Công (Nguyễn Văn Lựu - thân phụ của Nguyễn Kim), khu vực phía tây dành làm nơi trú ngụ của các quan và gia đình hộ lăng và trại lính canh lăng.

Việc thờ tự bên trong với những khí tự rất đẹp. H. Bretain -một người Pháp có nhiều bài viết về Thanh Hóa, trong bài “Thanh Hóa đẹp như tranh” đăng trên Revue Indochinoise (số 3-4 tháng 3-1922) cho biết: “Gian chính giữa để thờ Nguyễn Kim. Trong một cái khám rất đẹp có để hai tấm bài vị: Một tấm ghi mọi chiến tích của Nguyễn Kim, một tấm ghi duệ hiệu (?) của vợ ông...Trước các bài vị có kê hai cái sập chạm rồng. Bên trái và bên phải là hai rương quần áo thờ. Mỗi lần vua về Nguyên miếu đều cúng tế theo đúng mọi nghi lễ qui định. Người ta trải lên bức sập trong cùng miếu một chiếc chiếu hoa. Trên chiếu lại trải các thảm và gối, một bộ đũa ăn cơm, một bộ đồ uống rượu, một bộ đồ chè, và những cây đèn thiếc. Trên cái sập thứ hai cũng trải chiếu, trên có một cái kỷ thấp sơn son để bày các món ăn. Rồi tiếp đến là hai bàn thờ. Trên bàn thờ phía trong, những ngày có cúng kỵ, bày các mâm quả và các cây đèn bằng thiếc. Trên bàn thờ phía ngòai bày bộ ngũ sự bằng thiếc, những lo hoa, hai con hạc gỗ sơn son thếp vàng, hai khay bằng giấy để sau khi lễ xong thì đem đốt. Khỏang giữa hai bàn thờ là là những cái bàn để dâng bò, dê, lợn cúng tế. Khi nào vua đến cúng bái thì trải một chiếc chiếu trước bàn thờ ngòai.”

Do chiến tranh cùng với quan điểm hẹp hòi và bệnh ấu trỉ thời bao cấp, Miếu Triệu Tường đã bị phá hủy hoàn toàn.

Trong những năm gần đây, khu di tích lăng miếu Triệu Tường đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch) ra quyết định xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, được khai quật thám sát khảo cổ và được chính quyền tỉnh Thanh Hóa giao cho huyện Hà Trung, xã Hà Long phải quản lý bảo vệ, giữ gìn nguyên trạng khu vực di tích và đã được UBND tỉnh Thanh Hóa phê duyệt dự án phục hồi tôn tạo Nguyên miếu và Trừng quốc công miếu, thuộc dự án bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích lăng miếu Triệu Tường (giai đoạn 1). Theo đó hai hạng mục này sẽ được đầu tư hơn 40 tỷ đồng từ nguồn vốn chương trình mục tiêu quốc gia và nguồn công đức của các tổ chức, nhà hảo tâm để trùng tu, tôn tạo, phục dựng, làm sống lại di tích với một vị thế xứng tầm với di tích lịch sử cấp quốc gia, bảo đảm những giá trị tâm linh và vẻ đẹp kiến trúc vốn có.


Đình Gia Miêu với những nét kiến trúc độc đáo, tinh xảo bậc nhất xứ Thanh hiện nay


Các đồng chí lãnh đạo trung ương, tỉnh trồng cây lưu niệm tại khu di tích Lăng Miếu Triệu Tường

3. Đình Gia Miêu. Được vua Gia Long cho xây dựng vào năm 1806, cùng thời với việc xây dựng khu Lăng miếu Triệu Tường. Đây là một công trình kiến trúc gỗ với mặt bằng xây dựng có diện tích 374,8m2. Dưới thời Nguyễn, ngôi đình này có nghệ thuật kiến trúc tiêu biểu ở tỉnh Thanh Hóa.

Đình được dựng trên một khu đất rộng, thoáng, hướng tây nan, để thờ Thành Hoàng và những bậc Thánh nhân. Quanh khuôn viên đình còn có nhiều cây cổ thụ làm cho công trình hòa nhập một cách hài hòa uyển chuyển với thiên nhiên. Khói hình kiến trúc của đình nhìn gần gây cảm giác hoành tráng bởi kích thước đồ sộ, nhìn xa cảm giác mê hoặc bởi bộ mái xòe rộng,kéo dài,lan xuống thấp và các đầu đao lại cong vút lên trông tựa như một con thuyền.

Vẻ bề thế,tôn nghiêm, hoành tráng của đình được nhìn thấy rõ bởi trpng sân không có thêm một công trình phụ nào, sự chú ‎ tập trung vào ngay tòa Đại Đình và Hậu cung trong một mặt bằng kiến trúc theo kiểu chữ đinh.

Tòa Đại Đình gồm 5 gian chính và 2 gian chái. Bộ mái lợp ngói muic hài. Bờ nóc của tiền đường được trang trí công phu, nổi cao chính giữa nóc là hình lưỡng long chầu nguyệt rất thanh thóat. Các bờ dải toả ra bốn góc cũng đều có hình rồng đắp nổi. Diện tích mặt mái lớn nhưng ngôi đình trông vẫn đẹp nhẹ nhàng và thanh thoát. Phía trong ngôi đình, kết cấu vi kèo chủ yếu là theo kiểu “chồng rường , kẻ bẩy”.

 Về nghệ thuật trang trí, đình Gia Miêu là một công trình kiến trúc – nghệ thuật to lớn, bề thế với nhiều mảng chạm khắc, trang trí cầu kỳ. Những mảng chạm khắc này được thể hiện ở vì nóc, đầu các xà đai, kẻ bẩy, đường diềm... Ngoài ra, còn có các linh vật như: rồng, lân, rùa, hươu... cũng được trang trí hết sức công phu và tinh tế.

Ngoài ra, còn có thú vật khác như hươu, chim sẻ, thạch sùng, cũng được điểm xuyết trong tổng thể một bức tranh đa dạng trên các bức cốn mê hay kẻ bẩy. Các con vật này được trạm khắc rất thực.

Hình tượng lá cúc cách điệu, lá sen được chạm khắc phỏ biến trong toàn bộ trang trí nội thất ngôi đình, điều đó không gây một ấn tượng đơn điệu mà chỉ làm tăng thêm tính uyển chuyển, mềm mại, tính hiện thực của toàn bộ công trình.

Một đặc điểm rõ nét trong kết cấu kiến trúc và nghệ thuật trang trí ở đình Gia Miêu có một mối quan hệ huuwx cơ thống nhất. Sự hài hòa giữa kiến trúc và điêu khắc hay đúng hơn là hình thái “ nửa kiến trức, nửa điêu khắc” là đặc điểm bao trùm toàn bộ công trình. Ở đây ngoài những thuộc tính của kiến trúc ra thì những phẩm chất của điêu khắc bao gồm các mảng chạm khắc dày đặc trên các đầu kẻ bẩy, các bức cốn mê đến các con rường…đã làm tròn chức năng thẩm mỹ làm tăng thêm vẻ bề thế tôn nghiêm, trong một không gian kiến trúc hiện thực giàu chất thơ. Rõ ràng sự gia công của trí tuệ con người đã nâng hiệu quả bố trí không gian bên trong và kết cấu hình khối bên ngoài ngôi đình lên cao trên cả ba hình diện nghệ thuật, kỹ thuật và tư tưởng.

Nhìn chung, với quy mô kiến trúc và nghệ thuật điêu khắc còn lại thì đình Gia Miêu được xem như là một công trình tiêu biểu của kiến trúc thời Nguyễn ở Thanh Hoá, từ bản thân khối hình kiến trúc hoàn chỉnh đến cái tươi tắn và hoàn mỹ bới nghệ thuật trang trí, đình Gia Miêu xứng đáng là một công trình kiến trúc nghệ thuật đẹp, tiêu biểu trong dòng chảy của những ngôi đình đẹp nhất đồng bằng Bắc Bộ và vùng Thanh – Nghệ - Tĩnh.

 

Bản đồ Huyện Hà Trung

Đăng ký tạm trú